Posted by: 2kyc | July 27, 2011

All researches on topics of interest

Trường Sa – Hoàng Sa – Biển Đông

Tác giả: NHÓM PHÓNG VIÊN

Bài đã được xuất bản.: 24/07/2011 05:00 GMT+7
Có thể nói, tham vọng áp đặt chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên hầu hết Biển Đông đã tỏ ra hết sức mâu thuẫn với nguồn tài liệu chính sử của họ. Từ lâu, Trung Quốc đã không từ bỏ việc làm mà tất cả các học giả chân chính đều lên án là cố tình bịa đặt và xuyên tạc lịch sử.

Hành động này đã được Trung Quốc toan tính lâu dài và tổ chức thực hiện công phu để có thể xuyên tạc lịch sử hàng ngàn năm từ cổ chí kim trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ có thể điểm ra một vài trường hợp cụ thể như là một trong rất nhiều minh chứng cho những toan tính trên của Trung Quốc.

Đảo Đá Đông thuộc quần đảo Trường Sa, Việt Nam Các Sách Trắng về chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, cũng như một số tài liệu nghiên cứu của các học giả Trung Quốc mà tiêu biểu là ông Hàn Chấn Hoa với cuốn “Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải của nước ta” (Trung Quốc -NV) đã đưa ra nhiều kết luận “hùng hồn” rằng có rất nhiều “sự thật lịch sử”, trong đó có sự hiện diện của các di chỉ khảo cổ, “chứng tỏ đầy đủ rằng” Trung Quốc là người đã phát hiện, kinh doanh, khai thác và thực hiện việc cai quản đầu tiên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa) từ “hàng nghìn năm nay”.

Thế nhưng, đáng tiếc là các sử gia Trung Quốc thời cổ xưa lại chính là những nhà chép sử có lòng tự trọng và nghiêm túc với chức trách. Các bộ Sử ký của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đã ghi lại hầu hết các sự kiện quan trọng với nhiều chi tiết rõ ràng, nên khi đi vào từng vấn đề cụ thể, lập luận của Trung Quốc ngày nay về chủ quyền của họ trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cũng đã tỏ ra hết sức mâu thuẫn với bản thân các tài liệu chính sử.   Xét về mặt địa lý, Trung Quốc trích dẫn từ một số sách địa lý cổ xưa của họ có những ghi nhận và mô tả về các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để cho rằng họ phát hiện và xác lập chủ quyền tại hai quần đảo này từ hàng ngàn năm qua.

Chẳng hạn như cuốn Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn (thời Tam Quốc 220-265) viết dưới thời Hán Vũ Đế, có mô tả về các đảo đá và cát trên Biển Đông, có đoạn mô tả chỗ nước nông và có đá nam châm khiến cho tàu thuyền qua lại nguy hiểm, dễ bị chìm. Dị Vật Chí của Dương Phù (đời Đông Hán, 25-220 sau CN) nói về những điều lạ của xứ nước ngoài mô tả địa danh Trướng Hải như sau: “Tại Trướng Hải Kỳ Đầu nước cạn nhưng nhiều đá nam châm, thuyền lớn đi ngoài cõi, dưới thuyền gắn lá sắt sẽ bị nhổ ra”.

Đảo Đá Đông thuộc quần đảo Trường Sa, Việt Nam

Chỉ có vậy, thế nhưng các tài liệu gần đây của Trung Quốc lại “áp đặt” sự mô tả này về Trướng Hải Kỳ Đầu cùng truyền thuyết về đá nam châm hút đinh sắt của các thuyền có liên quan tới các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông. Cũng cần nhấn mạnh rằng, phần lớn các thư tịch cổ của Trung Quốc khi nói về đảo và các bãi đá ngầm trên Biển Đông đều chép với rất nhiều tên gọi khác nhau.

Chẳng hạn như trong cuốn Đông Tây Dương Khảo của Trương Nhiếp (1618), có nói đến các đảo nằm cách huyện Văn Xương 100 dặm (khoảng 50km), điều này không thể phù hợp về mặt địa lý với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) nằm cách Hải Nam về phía nam đến hơn 250km. Tên của các đảo này cũng được chép rất khác nhau tùy theo sự tưởng tượng của tác giả như: Cửu Nhũ Loa Châu, Vạn Lý Thạch Đường, Thiên Lý Thạch Đường, Thất Châu Dương, Thất Châu Sơn… Thật là khó có thể chấp nhận quan điểm của Trung Quốc khi họ cứ khăng khăng cho rằng những đảo đó chính là quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hoặc có lẽ là Trường Sa (Spratleys).

Đôi khi, sự khẳng định của họ không khỏi gây ra sự sửng sốt. Trong tài liệu “Các biên giới của Trung Quốc” của Chu Kiện (1991), tác giả khẳng định “năm 1873, Quách Tông Đào, Đại sứ đầu tiên của Trung Quốc được cử sang phương Tây, trong nhật ký hành trình đã nhắc đến Nam Sa (Spratleys) thuộc về Trung Quốc”. Thế nhưng đoạn văn này lại được minh hoạ thêm bởi chú thích đề cập tới Hoàng Sa (Paracels) và ghi chú đảo nằm ở vĩ độ 17 Bắc. Đây quả là sự lẫn lộn nghiêm trọng và càng cho thấy sự cố tình gán ghép các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vốn nằm phía nam vĩ tuyến 17 vào lãnh thổ Trung Quốc.   

Khu hậu cần nghề cá trên đảo Song Tử Tây, quần đảo Trường Sa, Việt Nam

Các tham vọng của Trung Quốc còn mâu thuẫn bởi chính các nguồn tư liệu khác của họ. Nhiều tài liệu địa lý cổ mô tả và phân định rõ lãnh thổ của đế chế Trung Hoa khá trùng hợp nhau, các mô tả này đều định rõ lãnh thổ Trung Hoa có điểm tận cùng ở phía nam là đảo Hải Nam. Theo hướng này, trong số các cuốn sách ở thế kỷ XII, rồi thế kỷ XVII và XVIII, trong đó các cuốn Địa chí phủ Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) cũng như cuốn Địa chí tỉnh Quảng Đông năm 1731, cuốn sách dâng nộp vua Thanh năm thứ 9 đời Văn Chính (1731), bản đồ tỉnh Quảng Đông không nói gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong khi đó vào năm 1754, các dân binh hải đội Hoàng Sa của Việt Nam bị đắm thuyền khi công tác trên quần đảo Hoàng Sa trôi dạt tới bờ biển Trung Quốc, nhà chức trách Trung Quốc sau khi thẩm tra xong đã đưa họ về quê hương mà không có sự phản kháng nào của Trung Quốc, chứng tỏ hoạt động của hải đội Hoàng Sa được Trung Quốc thời đó ghi nhận là việc bình thường thực thi chủ quyền của Việt Nam tại vùng biển này. Trong tất cả các tài liệu Trung Quốc đều nhắc lại rằng các ngư dân Trung Quốc đã đến các đảo trên Biển Đông vào mọi thời kỳ. Nhưng, các tài liệu mà họ đưa ra chỉ cho thấy đó là những hành vi cá nhân, không mang tính nhà nước, không phù hợp với một sự chiếm hữu cũng như với ý định khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia bởi vì việc chiếm cứ “do các tư nhân không hành động nhân danh chính phủ của họ mà thực hiện vì một lợi ích cá nhân không tạo thành một sự chiếm hữu”, theo luật pháp quốc tế đương thời.

Hơn nữa, cũng trong những thời kỳ này, chính các quần đảo đó thường được các ngư dân Việt Nam lui tới. Trên thực tế, đã không có một chút dấu vết gì chứng tỏ là Trung Quốc đã từng phản kháng lại sự khẳng định chủ quyền của Hoàng đế Gia Long và các người kế nhiệm ông trong suốt cả thế kỷ XVIII cũng như thế kỷ XIX, khi các chúa Nguyễn của Việt Nam tổ chức việc khai thác các đảo nằm dưới quyền tài phán của họ một cách mạnh mẽ và liên tục. Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn tập lịch sử Trung Quốc những lời xác nhận sự không tồn tại tham vọng về các đảo trên Biển Đông của Trung Quốc trong lịch sử.

Hải đăng đảo Sơn Ca, quần đảo Trường Sa, Việt Nam

Như vậy, có thể thấy rằng Trung Quốc chưa bao giờ có việc thực thi chủ quyền mang tính nhà nước đối với các quần đảo này suốt lịch sử cho tới đầu thế kỷ XX. Sự thờ ơ của Trung Quốc đối với các quần đảo trên Biển Đông đã được hai tài liệu xác nhận: bản đồ Trung Hoa của đế chế thống nhất Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ, phát hành vào năm 1894, lãnh thổ Trung Quốc trong đó chỉ mở rộng tới đảo Hải Nam. Ngoài ra, quyển “Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư”, phát hành năm 1906 nêu ở trang 241 rằng “điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Nhai Châu, đảo Quỳnh Châu, ở vĩ tuyến 18°13′ Bắc”.

Sự chính xác và rõ ràng của các luận chứng khẳng định chủ quyền lâu đời, liên tục của Việt Nam bằng những hành động cụ thể của người Việt theo lệnh của triều đình từ thế kỷ XVIII, khiến Trung Quốc phải phản bác lại là các vua chúa Việt Nam luôn chỉ hoạt động nhằm phục vụ Hoàng đế Trung Hoa. Điều này lại càng phi lý. Vương quốc Việt Nam (Đại Cồ Việt) được thành lập vào thế kỷ XI bằng việc thiết lập một quyền lực chính trị và một nền cai trị độc lập đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời công nhận một cách khéo léo quyền bá chủ của Trung Quốc.

Mối quan hệ chư hầu này khó xác định theo một quan điểm pháp lý bởi vì nội dung của nó mơ hồ và tăng giảm tùy theo các thời kỳ. Trong lịch sử bang giao Đại Việt – Trung Hoa, các triều đại Việt Nam cần lễ thụ phong của Trung Quốc để được công nhận, giống như mọi quốc gia hiện đại muốn đứng vững thì không thể bỏ qua sự công nhận quốc tế. Đối với Trung Quốc, cống nạp thể hiện sự phụ thuộc tối đa mà họ hy vọng. Ngược lại, đối với Đại Việt, cống nạp thể hiện sự độc lập tối đa mà vương quốc này có thể đạt tới mà không gây nên phản ứng đế quốc từ phía Trung Quốc. Chế độ chư hầu được Việt Nam chấp nhận trên danh nghĩa, dưới hình thức triều cống danh dự. Nhưng nghĩa vụ tôn kính của triều đình Việt Nam đối với “Thiên triều” là hoàn toàn hình thức.

Bộ đội Việt Nam chăm sóc rau xanh trên đảo Sơn Ca, quần đảo Trường Sa, Việt Nam

Lịch sử các quan hệ Trung-Việt từ khi thành lập nước Việt Nam, thoát ra khỏi sự chi phối của Trung Quốc, đã được đánh dấu bằng nhiều mưu toan quân sự của Trung Quốc chống lại Việt Nam. Sau khi đã chiến thắng, các vua Việt Nam không bao giờ quên việc tìm cách xoa dịu người láng giềng khổng lồ của mình bằng một sự thần phục tượng trưng. Từ đó cho thấy lập luận của Trung Quốc đưa ra từ quan hệ chư hầu để mập mờ đòi hỏi yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam là không hề có giá trị pháp lý.

Trung Quốc cũng sử dụng một số báo cáo về khảo cổ học để cho rằng họ có chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, không có một kiểm chứng khoa học khách quan nào cho thấy những di vật cổ xưa nói là được tìm thấy trên các quần đảo này là của người Trung Quốc. Hơn nữa, theo giới chuyên môn, giả sử “các di chỉ khảo cổ” mà Trung Quốc cho là phát hiện tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đúng là của người Trung Quốc đi chăng nữa, thì theo luật pháp quốc tế, cũng không có ý nghĩa trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ tại đây. Là một ngành khoa học, khảo cổ học và những di chỉ khảo cổ không có vai trò quyết định trong việc công nhận hay bác bỏ chủ quyền của một quốc gia trên một vùng lãnh thổ nơi các di chỉ khảo cổ hiện diện.

Việc Trung Quốc coi các “di chỉ khảo cổ” nói là tìm thấy ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để kết luận “hàng loạt tư liệu văn vật này chứng minh một cách hùng hồn rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ cổ xưa là lãnh thổ của Trung Quốc” là một kết luận mang tính suy diễn, không có cơ sở khoa học, lịch sử và pháp lý quốc tế. Cái gọi là những “di chỉ khảo cổ” của Trung Quốc chỉ là sự bịa đặt cố ý nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị, không làm thay đổi được thực tế là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời và người Việt Nam đã thực thi quyền chủ quyền của mình liên tục trên hai quần đảo này cho tới nay.

  • Theo Đại Đoàn Kết

Tác giả: KỲ DUYÊN

Bài đã được xuất bản.: 22/07/2011 07:00 GMT+7

Con tim minh bạch và tim đen lập lờ… chỉ là những câu chuyện xoay quanh con tim. Rất bé nhỏ, nhưng nó, hoặc có quyền quyết định tới sinh tử một dân tộc, hoặc xô đẩy đời người vấp ngã. Đó cũng là những lát cắt hỉ nộ ái ố mà Phát ngôn và hành động tuần này- mong được sự chia sẻ, đồng cảm của quý bạn đọc

Con tim minh bạch..

Chủ quyền Biển Đông, sự dấn thân vì Tổ quốc của những người lính, của những người dân Việt Nam là thông điệp, là sự tri ân sâu sắc của cả xã hội chúng ta trong những ngày tháng 7 nóng bỏng này.

Đó là sự dấn thân của những con tim yêu nước và minh bạch.

Sự dấn thân đó được kế tục và kế thừa từ các bậc tiền nhân can đảm và kiêu hãnh trước kẻ xâm lược. Sứ thần Giang Văn Minh của Đại Việt đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh, năm 1638), từng cất lên khẩu khí: “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng”(Sông Đằng từ  xưa máu còn đỏ).

Khẩu khí đó nhắc nhở vua Minh Tư Tông (Hoàng đế Sùng Trinh) rằng, người Việt đã 3 lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng, khi vua Minh ngạo mạn: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”(Cột đồng đến nay rêu đã xanh). Hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ, tức Đại Việt – bị diệt vong).

Sứ thần Giang Văn Minh đã bị vua Minh hành hình dã man. Nhưng chí khí nước Việt và sự minh bạch của một con tim yêu nước còn thấm đẫm đến hậu sinh.

Minh bạch, và dấn thân như “sói biển” Mai Phụng Lưu, thuyền trưởng Lê Văn Chiến, thuyền trưởng Nguyễn Thừa… cùng hàng nghìn ngư dân, kiên cường tấc biển, tấc vàng. Như “Những ngôi mộ gió ở Bình Châu” (Thanh Niên, 21/7/2011), của những ngư dân đi Hoàng Sa và mãi không về.

Chị Bùi Thị Thủy ở Bình Châu, có chồng là ngư dân bị mất tích ở vùng biển Hoàng Sa – Ảnh: Lê Hưng/Thanh niên

Bỗng nhớ tới bức ảnh đã khiến người viết bài phải cay mắt. Bức ảnh chụp một ngôi mộ của một liệt sĩ, với dòng chú thích: “Nhớ nhà”. Trên khắp dải chữ S này, có bao nhiêu ngôi mộ “nhớ nhà” như thế?

Minh bạch và dấn thân như những cán bộ, chiến sĩ những nhà giàn DK1- những cột mốc chủ quyền Tổ quốc trên Biển Đông. 13 cán bộ, chiến sĩ trong số họ đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Như những chiến sĩ công binh Việt Nam, đã hy sinh trên bãi đá Gạc Ma, như những người lính đã quyết tử để bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Nhân dân xin mãi biết ơn họ, những người lính Việt quả cảm đã nằm lại dưới biển xanh, để đất nước mãi trường tồn. Nhân dân cũng xin tri ân những đồng bào của mình, những ngư dân ở Hoàng Sa- Trường Sa. Họ mưu sinh, nhưng cũng là sự dấn thân để bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Ai đó đã nói rất ý nghĩa rằng, Biển Đông đã là một nghĩa trang đặc biệt. Nơi ấy, những người lính Việt, những ngư dân Việt đã trở về Đất Mẹ.

Và minh bạch, như con tim những nhạc sĩ trẻ Trần Lê Quỳnh, Tuấn Khanh, với khúc quân hành: “Tổ quốc gọi ta. Hoàng Sa- Trường Sa. Sẽ đến lúc chúng ta giành lại. Nổi sóng Biển Đông. Con cháu Tiên Rồng. Nàỳ người anh em nắm tay cùng tôi” (Này người anh em). Cùng nhiều ca khúc khác của các nhạc sĩ chuyên nghiệp, nghiệp dư, đập một nhịp cùng những con tim yêu nước trong những ngày tháng 7 sục sôi huyết quản.

Bức tranh miêu tả cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma 14-3-1988 (đang được treo trang trọng tại Phòng Truyền thống của Vùng 4 Hải quân)

Lịch sử dân tộc là lịch sử những cuộc chiến chống xâm lược phương tây, phương bắc. Giống nhau về mục đích bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc, nhưng lại khác nhau bởi hoàn cảnh, và đặc điểm thời đại.

Nhưng trong họa lớn vẫn có phúc lớn.

Đó là Việt Nam có chính nghĩa, có đầy đủ cơ sở pháp lý về chủ quyền và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Và quan trọng nhất- lòng dân Việt Nam luôn là bức tường vững chãi bảo vệ chủ quyền đất nước.

Và minh bạch chủ quyền

Ngày 20/7/2011, trên báo Đại Đoàn Kết đăng bài  “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam”. Đây chính là Công hàm do Thủ tướng Phạm Văn Đồng (lúc đó), ký ngày 14/9/1958.

Đây cũng chính là văn bản lâu nay Trung Quốc lấp lửng, biện minh cho cái gọi là Việt Nam công nhận chủ quyền của họ với 2 quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa. Phải nói, chính sự tung hỏa mù đó, đã khiến cho lòng người dân Việt Nam không ít phân vân, do không hiểu rõ nguồn cơn.

Công hàm năm 1958 do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký

Nhưng thế giới phẳng, buộc mọi quốc gia, phải minh bạch chủ quyền của mình giữa thanh thiên bạch nhật, trên cơ sở pháp lý quốc gia và quốc tế. Khi có sự minh bạch, thì lòng dân sẽ tĩnh trí, biết cách ứng phó hơn. Và cũng phải thấy  được cái hoàn cảnh lịch sử quá đặc biệt chằng chéo nhau của sự ra đời Công hàm 1958.

Điểm ‘mạnh” mà lâu nay Trung Quốc thường đem ra hù dọa Việt Nam và cộng đồng quốc tế, nếu soi kỹ lại chính là điểm “yếu”  nhất và thiếu cơ sở pháp lý nhất của họ.

Đó là “Công hàm 1958 không hề đề cập đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi theo Hiệp định Genève 1954, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại 2 quần đảo này theo luật pháp quốc tế”.

…Và cũng bởi “Hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội…”

Rõ ràng, Công hàm 1958 cho thấy, VNDCCH  không thể công nhận, hoặc “cho” Trung Quốc cái mà VNDCCH chưa có quyền hạn quản lý. Mọi vấn đề về chủ quyền đất đai, biển đảo, phải được đưa ra bàn thảo và quyết định trước Quốc hội và quốc dân đồng bào

Tại cuộc họp báo mới đây, trước phiên họp đầu tiên của Kỳ họp QH khóa XIII, ông Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng QH cho biết, tại kỳ họp này, QH sẽ nghe báo cáo về tình hình Biển Đông: Làm thế nào để đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo hoà bình để đất nước phát triển?

Con tim minh bạch gặp sự minh bạch?

Sự dấn thân sẽ gặp sự dấn thân?

“Mùa kiện”

Trong văn chương, người ta biết tới tác phẩm Mùa lạc, rồi Mùa lá rụng trong vườn… Mới đây, trong phim ảnh, trong âm nhạc, người ta biết thêm “Mùa kiện”.
“Mùa kiện” là tác phẩm chung của giới văn nghệ sĩ, chỉ xảy ra 2 năm/ lần khi có chuyện xét tặng Giải thưởng Nhà nước. Năm nay, “Mùa kiện” có 2 chương:

Chương I, xoay quanh câu chuyện kiện tụng của 2 nhà biên kịch họ Phan- Phan Thanh Tú, Phan Huyền Thư- với đạo diễn Nguyễn Thước khi ông đề xuất xét Giải thưởng Nhà nước cho ông ở góc độ đạo diễn với chùm 3 tác phẩm phim tài liệu, mà 2 nhà biên kịch họ Phan là tác giả kịch bản.

Chương II: Xoay quanh câu chuyện của 5 nhạc sĩ Đoàn Bổng, Đinh Quang Hợp, Ngọc Khuê, Thế Song, Lê Việt Hòa phản đối danh sách 28 nhạc sĩ được đề cử Giải thưởng Nhà nước năm nay. Theo các ông, có 11 người không xứng đáng như Đỗ Hồng Quân, Đức Trịnh, Lê Lan, Lê Tình, Vĩnh Lại, Nguyễn Chính, Cát Vận, Thập Nhất, Vũ Thành, Thanh Anh, Doãn Tiến.

Quả thật, nhiều cái tên xướng lên thấy lạ hoắc lạ huơ! Hay nghệ thuật vốn khó tính, nên chỉ các nhạc sĩ biết với nhau?

Có lẽ, trước sự kiện tụng rầm rĩ, thể hiện sự cầu thị lắng nghe mới đây, Chương I được kết thúc nhanh chóng.

Bộ Văn Hóa- Thể Thao- Du Lịch có công văn chính thức “…Trình Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Nhà nước cho cụm tác phẩm Sự nhọc nhằn của cát, Những công nhân @ và Chất xám mà đạo diễn Nguyễn Thước đại diện chứ không phải xét tặng giải thưởng cho đạo diễn Nguyễn Thước”.

Và Chương II cũng kết thúc nhanh chóng không kém: Trên trang Web của Bộ VH- TT- DL ngày 5/7, công bố lại danh sách các nhạc sĩ lọt vào đề cử. Ngoài 28 cái tên đã được công bố trước đó, có thêm tên của 5 nhạc sĩ vừa khiếu kiện (!).

Thế nhưng, sự kết thúc nhanh chóng của các chương, xem chừng không có hậu. Người ta thấy buồn cười và có quyền nghi ngờ rằng đây chỉ là giải pháp chữa cháy, mang tính tình thế, đối phó.

Bởi đạo diễn Nguyễn Thước có cái lý của ông: Vậy, 15 đạo diễn của 15 bộ phim tài liệu cùng tham dự Giải thưởng Nhà nước có phải “chịu chung số phận” như ông không?

Thứ nữa, công văn ngày 14/7/2011 thực chất mâu thuẫn với chính Thông tư 03/2010/TT của Bộ VH-TT-DL. Đó là Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật dành cho tác giả (cụm tác giả) chứ không dành cho tác phẩm (cụm tác phẩm) mà ở đây, đạo diễn Nguyễn Thước là đại diện (?).

Còn ở lĩnh vực âm nhạc, 5 nhạc sĩ khiếu kiện, khi biết mình được “vớt” vào danh sách xét giải thưởng, lại thêm một lần nữa bị tổn thương, ở 2 lẽ:

Họ đấu tranh trước hết vì lẽ công bằng, không phải chỉ vì họ.

Họ bất bình vì cách làm việc bất minh, vô trách nhiệm của Hội Nhạc sĩ, mà thậm chí họ cho là “ăn gian”. Bởi trong 3 ngày mà các thành viên đã chấm xong 340 tác phẩm bao gồm ca khúc, tác phẩm khí nhạc, lý luận… Nếu chấm “tử tế”, thì phải mất tới 150 tiếng đồng hồ, tức hơn 6 ngày không ăn không ngủ.

Đặc biệt, 4 tập hồ sơ của nhạc sĩ Đinh Quang Hợp (không trúng tuyển chọn), khi ông đến nhận về thấy tem vẫn còn nguyên, tức là chưa có ai mở ra. Và còn bức xúc của nhiều nhạc sĩ khác…

 

Trong khi đó, so với giới nghệ sĩ sáng tác, thì việc xét tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú cho các nghệ sĩ biểu diễn lại có những sắc thái khác.

Một số nghệ sĩ biểu diễn trưởng thành trong cơ chế “bao cấp” dù có tên tuổi, nhưng tâm lý có phần cam chịu. Để rồi  trong khi điệp khúc “xin- cho- không được”, rồi lại “xin- cho- hy vọng được” qua các đợt xét phong, cứ buồn bã cất lên cuối đời của kiếp nghệ sĩ, thì một số nghệ sĩ biểu diễn khác thành danh trong cơ chế thị trường lại không vậy.

Họ không cam chịu phận “xin-cho” nữa, kể cả người từng được phong NSUT như Thành Lộc. Bởi họ tự tin mình có tài năng, có tiền, có một lượng khán giả đông đảo nhất định. Và họ tin ở sự thẩm định của công chúng.

Nói cho công bằng, các văn nghệ sĩ có mong muốn đoạt Giải thưởng Nhà nước, hay được vinh danh NSND, NSUT không? Chắc chắn là có. Bởi đó là thêm một lần xã hội khẳng định, ghi nhận tài năng, sự cống hiến của họ.

Thế nhưng, xem “Mùa kiện” năm nay, người ta thấy quá thất vọng vì những khiếm khuyết về quy định các tiêu chí, về cơ chế quản lý và xét giải thưởng, về phẩm cách của các văn nghệ sĩ. Mỗi khi có đợt xét phong, là một lần các văn nghệ sĩ “vạch áo  trong nhà cho thiên hạ xem lưng”, không hiểu rằng, xấu chàng thì hổ nàng. Mà Tuần Việt Nam đã phải lên tiếng: “Lý thì gian, mà tình cũng chẳng ngay” (21/7/2011)

Cũng phải nói, giải thưởng thì cứ xét, cứ kiện cáo, cứ tặng… Chỉ khán giả, nhân dân thì chẳng ai nhớ được cái phim ấy là phim gì.

Còn thái độ “nói không” với xin- cho của một số văn nghệ sĩ biểu diễn, cho thấy những giá trị đích thực của đời sống. Nghệ thuật là chân- thiện- mỹ, được sàng lọc khắt khe bởi thời gian và thị hiếu xác tín của công chúng. Vậy thì nghệ thuật phải được vinh danh, chứ không phải là thứ để xin- cho, hoặc ban phát.

Chẳng hiểu “Mùa kiện” năm nay, có còn chương nào được viết tiếp nữa không?

Con tim lập lờ…

Tuần này, lại nổi lên một câu chuyện của con tim. Nhưng không phải là con tim minh bạch, trong sáng mà phải gọi là tim đen lập lờ… Gọi thế, vì câu chuyện mối quan hệ giữa ông thầy- giảng viên T.X.N (Trưởng phòng Tài vụ- Kế toán kiêm giảng viên Trường ĐH Tây Nguyên) và cô sinh viên năm cuối C.T.D được thầy hướng dẫn tốt nghiệp, lẽ ra là những kỷ niệm rất đẹp của tình thầy trò, lại thành kỷ niệm xấu và bẽ bàng.

Câu chuyện giữa 2 thầy trò bị vỡ lở ra ánh sáng, bởi lá thư tố cáo của C.T.D. D cho biết, trung bình một ngày D. nhận được 7 tin nhắn gợi ý chuyện “quan hệ tình cảm”. Riêng đêm 21/6, D. liên tục nhận được tin nhắn gạ đến nhà nghỉ trên đường Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ (TP Buôn Ma Thuột) hoặc sang nhà nghỉ ở huyện Cư Jút (Đăk Nông) để tránh bị phát hiện.

Cho đến tối 23/6, tin nhắn “Khoảng 19 giờ, phải đến một nhà nghỉ trên đường Nguyễn Công Trứ, nếu không sẽ khó thoát khỏi tay th.”, khiến D quá hoang mang lo sợ nên đã làm đơn tố cáo gửi các cơ quan chức năng.

Chuyện đã đến mức đó, thì cơ quan chức năng phải vào cuộc.

Tin nhắn gạ tình của thầy T.X.N

Lý giải cho tin nhắn “gạ tình”, không biết có để đổi lấy chất lượng luận văn của D hay không, ông T.X.N đổ thừa rằng bà vợ ông nhắn để kiểm tra đức hạnh của cô sinh viên D, và bà vợ ông đã phải nhận.

Cái sự nhận mình là người đã “gạ tình” sinh viên D của vợ ông T.X. N, có ai tin không thì tin. Nhưng người viết bài, thấy nó đắng ngắt. Cái đắng ngắt của người đàn bà buộc phải bênh chồng, phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” cho khỏi vỡ nồi cơm gia đình.

Khi đã phải viết thư tố cáo ông T.X.N, chắc chắn, C.T.D thoát khỏi tay “thầy”, nhưng còn ông T.X.N chắc chắn khó thoát khỏi bị xử lý.

Mới đây, được biết ông T.X.N đã bị kỷ luật cảnh cáo, và bị đình chỉ giảng dạy tại trường.

Tuy nhiên, có nhiều người vẫn chưa đồng tình với cô sinh viên C.T.D, khi cho rằng, việc D lưu trữ tới gần 40 tin nhắn, liệu có phải là một động cơ riêng khác hay không, nhất là C.T.D là một sinh viên khả năng chuyên môn vào loại yếu?

Trong thời buổi kim tiền này, cái quan hệ thầy- nữ sinh đầy chất thực dụng cũng không còn là của hiếm, thì việc nghi ngờ cô sinh viên C.T.D cũng không có gì lạ.

Vì lẽ ra, C.T.D có thể có cách tự bảo vệ mình tốt hơn, và không đến nỗi kéo dài mối quan hệ lấp lửng chẳng ra thầy trò, chẳng ra người tình này, để có một lối thoát minh bạch rõ ràng. Nhưng C.T.D đã không làm nổi. Hoặc do D quá non nớt, thiếu kinh nghiệm, hoặc do D cũng không có đủ can đảm. Chỉ khi bị vào đường cùng, mới đành dùng vũ khí- tố cáo.

Nhưng đó vẫn là thứ vũ khí tồi nhất, mà C.T.D mang ra sử dụng. Vì thầy bị kỷ luật, và trò chắc chắn cũng bị “sát thương” về danh dự.

Đời mỗi con người chỉ có một con tim. Con tim nuôi sống con người, nhưng con người cũng nuôi dưỡng con tim. Để nó là con tim yêu minh bạch, trong sáng, hay thành con tim đen lập lờ… tùy động cơ, mục đích của cá nhân.

Yêu thế nào là tùy con tim mỗi người. Tình yêu lớn nhất như với đất nước, nhỏ nhất với một con người cụ thể. Nhưng chắc chắn mỗi người phải chịu trách nhiệm về con tim mình. Có khi được vinh danh, được ghi nhớ, có khi phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, và có khi chịu trách nhiệm trước lương tâm- làm người.

Vậy thôi!

Tác giả: HOÀNG HƯỜNG

Bài đã được xuất bản.: 25/07/2011 06:00 GMT+7

Chúng tôi tìm về tỉnh Quảng Bình, nơi tập trung nhiều cựu chiến binh tham gia vào trận đánh bi hùng này. Họ là những người trực tiếp chiến đấu cùng anh Phương và anh Lanh, và trên chuyến tàu HQ-604 anh hùng, để được nghe tường tận hơn những câu chuyện rơi nước mắt chưa từng được biết đến.

Những ngày gần đây, tình hình Biển Đông đang căng thẳng. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phức tạp. Người dân cả nước lại hướng trái tim ra vùng trời biển tổ quốc. Những sự kiện từng xảy ra trên vùng biển, cũng như trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại được đặc biệt quan tâm, trong đó đương nhiên có trận hải chiến trên đảo Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 14/3/1988. Sự kiện được đề cập tới trong clip phim tài liệu ‘vòng tròn bất tử’ từng làm  làm xôn xao cư dân mạng từ năm 2008.

 

Hình ảnh thiếu úy liệt sĩ Trần Văn Phương ngã xuống khi giành giật lá cờ tổ quốc, và Anh hùng Quân đội Nguyễn Văn Lanh tay không chiến đấu để bảo vệ cờ đã trở thành biểu tượng anh dũng trong công cuộc giữ gìn chủ quyền đất nước.

 

Gần đây Tuần Việt Nam đã đăng bài viết Phía sau những người đã ngã xuống vì Trường Sa ghi lại những câu chuyện cảm động về các gia đình, thân nhân liệt sĩ đã ngã xuống trong sự kiện ngày 14/3/1988.

 

Để tiếp nối câu chuyện và có cái nhìn trực diện hơn, chúng tôi tìm về tỉnh Quảng Bình, nơi tập trung nhiều cựu chiến binh tham gia vào trận đánh bi hùng này. Họ là những người trực tiếp chiến đấu cùng anh Phương và anh Lanh, và trên chuyến tàu HQ-604 anh hùng, để được nghe tường tận hơn những câu chuyện rơi nước mắt chưa từng được biết đến.

 

 

Vợ chồng anh Lê Văn Đông và Nguyễn Thị Thương, Ảnh: Hằng Nhom

Đầu xuân năm 1988, thượng sĩ Lê Văn Đông (Thôn Rẫy, xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, Tỉnh Quảng Bình) được nghỉ phép hai tuần đón Tết Nguyên Đán. Không bỏ phí khoảng thời gian quý báu, anh chiến sĩ (khi ấy 22 tuổi – chỉ còn vài tháng nữa là hết kỳ nghĩa vụ quân sự) tranh thủ tổ chức đám cưới với người con gái cùng thôn đã chờ anh mấy năm quân ngũ.

Ngay trong ngày cưới, chú rể nhận lệnh của đơn vị và đúng 24 giờ sau, Lê Văn Đông quay lại đơn vị chuẩn bị làm nhiệm vụ. Bỏ lại cô dâu mới và đêm tân hôn còn nồng đượm, chàng trai lên đường và không biết hơn một tháng sau đó, cuộc đời binh nghiệp của anh có những lối rẽ không ngờ, gắn liền với một dấu mốc trong lịch sử chủ quyền đất nước.

 

Anh Mai Văn Hải đang ‘ngắm’ lại chính mình trong đoạn clip phim tài liệu. Lời bình trong phim cho rằng người này là chiến sĩ Trương Văn Hiền, nhưng các nhân chứng đều khẳng định đó là anh Mai Văn Hải. Hiện anh Hải đang sống tại xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ảnh: Hoàng Hường

Đầu năm 1988, Trung Quốc bất ngờ đổ bộ chiếm đóng trái phép 5 đảo đá: Chữ Thập, Châu Viên, Xu Bi, Huy Gơ và Ga Ven trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, sát cụm đảo Sinh Tồn.

Trong khi đó, trên 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao phía Tây Nam cụm đảo Sinh Tồn, giống ba góc tam giác có vị trí như trạm quan sát tuyến đầu, ‘mắt thần’ của Trường Sa, đã có nhà đóng giữ và cột mốc chủ quyền của Việt Nam.

 

Anh Nguyễn Văn Thống, anh là một trong những người bị thương nặng nhất trong trận chiến ngày 14/3/1988. Anh bị chìm cùng tàu HQ-604. Khi được vớt lên, chính đồng đội cũng không nhận ra anh. Anh Thống hiện là thương binh hạng 1. Anh sống cùng vợ con tại xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Ảnh: Hằng Nhom.

Chiều 13/3/1988, Việt Nam đưa ba tàu vận tải HQ-604, HQ-605, HQ-505 chở bộ đội ra đóng giữ ba đảo này. Lực lượng chủ yếu trên ba tàu này là các chiến sĩ thuộc Trung đoàn Công binh Hải quân Việt Nam E83, đơn vị của anh Lê Văn Đông. Trước đó đơn vị này đang đóng quân tại Đà Nẵng, được điều khẩn cấp ra Cam Ranh, Khánh Hòa.

Khá tình cờ, nhiều đồng hương của anh Đông tại Quảng Bình cùng đơn vị đều đi trên tàu HQ-604, được lệnh đóng giữ đảo Gạc Ma, con tàu bị tổn thất nặng nề nhất với gần như toàn bộ thủy thủ thương vong hoặc bị bắt, tàu bị bắn chìm.

 

Anh Lê Văn Đông chỉ vào cảnh anh đang bị lính Trung Quốc bắt trong đoạn phim tài liệu, Ảnh Hằng Nhom

Anh Đông kể lại, hầu hết chiến sĩ trên tàu thuộc trung đoàn công binh E83 và một số học viên của Học viện Hải quân. Tuổi đời hầu hết đều khoảng từ 20 – 23. Trong đó anh Đông thuộc diện ‘may mắn’ hơn vì đã kịp lấy vợ. Hầu hết những chiến sĩ khác đều chưa lập gia đình, để rồi nhiều người trong số họ đã ngã xuống khi chưa kịp có một mối tình nào mang theo.

Những đồng đội Quảng Bình như Mai Văn Hải, Nguyễn Văn Thống, Trần Văn Quyết, Lê Thanh Miễn và nhiều người đều ‘bái phục’ thành tựu tình yêu của anh Đông. Thế nhưng sau này, khi trải qua biến cố trên đảo Gạc Ma, bị báo tử khi còn sống. Trong các câu chuyện khi bị tù đày nơi xứ người. Anh Đông không khỏi day dứt về người vợ trẻ vừa cưới được một ngày của mình, khi vừa mang thai được vài tháng đã nhận tin chồng hy sinh.

Nhưng chị Nguyễn Thị Thương – vợ anh Đông – đã may mắn hơn nhiều người vợ lính khác trong sự kiện 14/3/1988 lại được đón chồng trở về, để trở thành nhân chứng của một câu chuyện lịch sử.

Kỳ 2: Vòng tròn bất tử

Tác giả: HOÀNG HƯỜNG

Bài đã được xuất bản.: 26/07/2011 06:00 GMT+7
 Trong ký ức của anh Lê Thanh Miễn và Lê Văn Dũng, thuộc nhóm chiến sĩ chiến đấu trên đảo Gạc Ma, trận chiến dường như mới xảy ra hôm qua. Tưởng như hai anh mới vừa chứng kiến cảnh đồng đội là Trần Văn Phương và Nguyễn Văn Lanh tay không giành giật lá cờ tổ quốc với lính hải quân Trung Quốc, được vũ trang tận răng.

 Kỳ 1: Nhân chứng

Tàu HQ-604 do thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy được lệnh tiếp cận đảo Gạc Ma, khẩn trương chuyển vật liệu xây dựng lên đặt mốc chủ quyền ngay trong đêm 13. Sau khi đặt được mốc và cắm cờ tổ quốc, một nhóm chiến sĩ được giao nhiệm vụ canh gác trên đảo. Những người khác bốc vác vận chuyển vật liệu từ tàu vào đảo trên các xuồng nhỏ.

Thiếu úy Trần Văn Phương và chiến sĩ Nguyễn Văn Lanh có nhiệm vụ giữ cờ.

Sáng ngày 14, Trung Quốc đưa 5 xuồng nhôm cùng vài chục lính thủy, dương AK lưỡi lê quây vòng tròn tiến lên đảo.

Những chiến sĩ trên đảo lùi dần về phía lá cờ, tạo thành ‘vòng tròn bất tử’. Anh Lê Thanh Miễn có mặt trong nhóm chiến sĩ đó. Anh chứng kiến thiếu úy Trần Văn Phương trúng đạn đầu tiên và gục xuống. Lá cờ được chuyển sang cho anh Nguyễn Văn Lanh. Hai lính Trung Quốc áp sát anh Lanh giành giật. Cán cờ bị văng mất, anh Lanh cuốn lá cờ vào ngực và đạp vào bụng hắn. Lính Trung Quốc đâm bằng lưỡi lê, báng súng vào anh Lanh nhưng anh vẫn kiên quyết giữ cờ.

 

Bức tranh miêu tả cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma 14-3-1988 (đang được treo tại Phòng Truyền thống của Vùng 4 Hải quân)

Anh Lê Văn Dũng lúc đó vừa chở được một xuồng vật liệu vào, đang định bơi ra tàu thì gặp lúc lính Trung Quốc tấn công phải lui trở lại. Trong thời điểm anh Phương và anh Lanh giành giật lá cờ với lính Trung Quốc, anh Dũng và anh Miễn cũng đang chiến đấu với những lính Trung Quốc khác, chỉ cách chỗ thiếu úy Phương hy sinh vài mét.Trong trận chiến không cân sức, như anh Dũng nói, giữa nhóm chiến sĩ mặc độc quần đùi áo may ô đánh giáp lá cà với hàng loạt lính mang súng AK lưỡi lê, ‘như trẻ con chơi vật nhau’.

 

 

Thiếu úy Trần Văn Phương – Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh

Sau trận giáp lá cà, quân Trung Quốc rút lui về tàu rồi dập pháo vào đảo Gạc Ma và tàu HQ-604, thảm sát gần như toàn bộ các chiến sĩ trên đảo và tàu.Anh Lê Thanh Miễn rưng rưng kể về người đồng đội Võ Văn Tứ (quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên). Anh Tứ bị mảnh pháo phạt đứt rời ngang đùi, mất chân phải. Máu ra nhiều. Sau khi pháo Trung Quốc ngừng, anh Miễn xé gấu quần đùi buộc ngang bắp chân anh Tứ rồi đưa anh nằm lên xuồng nhôm, cạnh xác thiếu úy Trần Văn Phương. Anh Phương bị lính Trung Quốc xả AK vào người và bị pháo phạt mất nửa mặt.

(Cần biết rằng Gạc Ma là một đảo chìm. Khi thủy triều xuồng nước đến đầu gối. Khi triều lên nước đến ngang bụng. Sau trận chiến, quân ta dùng những xuồng nhỏ để những người bị thương nặng nằm lên xuồng. Những người bị thương nhẹ và không bị thương cứ đứng dầm nước nhiều tiếng đồng hồ đến khi được cứu).

Trong lúc tàu HQ-604 và đảo Gạc Ma bị tấn công dữ dội thì bên đảo Len Đao và Cô Lin, tàu HQ-605 và HQ-505 cũng đồng thời bị bắn. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ cho tàu lùi ra lấy đà và ủi lên đảo Cô Lin. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy. Thủy thủ tàu vừa dập lửa vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604.

 

Anh Lê Văn Dũng. Hiện anh Dũng sống tại xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Cũng như nhiều người dân trong vùng, anh Dũng sống bằng nghề trồng cây cao su. Ảnh Hằng Nhom

Anh Miễn bơi đẩy chiếc xuồng có anh Tứ và xác anh Phương ở trên về đến tàu HQ-505 (lúc này đã bị cháy và hư hại một phần). Nhưng thành tàu quá cao (chừng 5 – 6 mét) có cầu thang lên. Anh cõng anh Tứ đằng sau, nhưng anh Tứ đã mất máu quá nhiều, sức yếu không thể ôm anh Miễn để anh leo lên. Anh Tứ chỉ một mực kêu khát nước và xin anh Miễn để anh lại, cho anh uống nước để anh chết.

Tội hắn lắm (tiếng địa phương Quảng Bình). Tôi cũng chẳng biết làm thế nào, đành để hắn lại trên xuồng rồi leo lên tàu HQ-505 lấy nước. Vậy mà hắn khỏe hung, cứ nằm vậy. Từ lúc bị thương khoảng 10h sáng, đến 4h hôm sau, khi được đưa về đảo Sinh Tồn thì ra đi”, anh Miễn nghèn nghẹn.

 

Anh Lê Thanh Miễn, hiện anh sống tại xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình, Anh Miễn sống bằng nghề làm ruộng. Ảnh Hằng Nhom

Nhưng ngay khi hai tàu Việt Nam đã bị bắn chìm và cháy (tàu HQ-605 bị bắn bên phía đảo Len Đao, sáng hôm sau 15/7 chìm). Người thương vong quá nhiều, phía Trung Quốc vẫn cho 3 tàu chiến ngáng chặn, không cho tàu Việt Nam và tàu Hội Chữ Thập Đỏ vào ứng cứu. Chiến sĩ hải quân Việt Nam, người gắng gượng bơi được vào bãi đá Cô Lin, người bị thương nằm trên xuồng, thậm chí trên lưng đồng đội. Người ôm những mảnh tàu vỡ lênh đênh trên mặt biển nhiều tiếng liền.

 

Chỉ đến đêm 14, sang ngày 15, tàu Việt Nam mới tiếp cận được đảo Gạc Ma để đưa các chiến sĩ về đảo Sinh Tồn cứu chữa. Nhiều người sang ngày 15 mới được cứu. Anh Miễn kể vài ngày sau khi được đưa về, lưng và vai các chiến sĩ tróc từng mảng da vì cháy nắng và ngâm nước mặn quá lâu.

 

Nhiều chiến sĩ không đợi được đã vĩnh viễn ra đi, trong đó có anh Tứ.

Kỳ 3: Cá mập

Tác giả: HOÀNG HƯỜNG

Bài đã được xuất bản.: 7 giờ trước
TRONG MỤC NÀY (Đọc thêm)

Kỳ 1: Nhân chứng

Kỳ 2: Vòng tròn bất tử

Khi tạm biệt người vợ vừa cưới ra đi, chỉ đến lúc lên tàu anh Lê Văn Đông cùng các đồng đội mới được biết nhiệm vụ của các anh là đi đóng giữ ba đảo đá quan trọng của Trường Sa.

Khi lính Trung Quốc bắt đầu đổ bộ lên Gạc Ma và uy hiếp chiến sĩ trên đảo, những người ngoài tàu, trong đó có anh Đông, được lệnh vẫn bình tĩnh, kiên quyết làm tiếp nhiệm vụ bốc xếp vật liệu xuống các xuồng nhôm để chở vào đảo.

Khi nghe tiếng súng nổ ở đảo Gạc Ma, các chiến sĩ dồn sang một bên boong tàu nhìn bất lực, trong tay không có vũ khí. Lúc này Trung Quốc cho các xuồng nhỏ chạy quanh tàu Việt Nam gọi loa xua đuổi, đe dọa bắt tàu rời khỏi khu vực đảo. Chỉ sau đó ít lâu, tàu bị dập pháo mù mịt.

Nhiều chiến sĩ đang bốc xếp hàng trên boong trúng đạn tử thương tại chỗ. Anh Đông bị thương. Chỉ được vài phút con tàu gần như bị phá hủy và bắt đầu chìm. Nhiều chiến sĩ, hoặc bị bắn rơi, hoặc chủ động nhảy xuống biển. Anh Đông cũng nhảy xuống. Như anh kể, lúc tàu nghiêng xuống và chìm dần, áp lực nước đẩy anh và một số người ra xa.

Tàu to và chìm quá nhanh. Tôi còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra. Khi nhảy xuống biển, nhìn sang xung quanh thấy anh em thương vong, vẫy vùng, nhiều người không biết bơi. Tôi uống đầy bụng nước, sờ tay lên mặt và người đầy máu. Tiếng súng nổ, tiếng la hét hỗn loạn. Nhiều anh em khóc. Tôi lúc đó cũng hoang mang và tủi thân, nghĩ chắc chắn mình sẽ chết. Tôi thầm chào vĩnh biệt ba mẹ, anh em và vợ rồi cũng khóc. Lúc đó thật hoảng loạn“, anh Đông kể.

 

Anh Lê Văn Đông (phải) và anh Trần Thiện Phụng (anh Phụng cũng là 1 trong 9 người bị bắt đi Trung Quốc), Ảnh anh Lê Văn Đông cung cấp

Sau đợt dập pháo, Trung Quốc cho xuồng nhỏ chạy quanh xả AK vào những chiến sĩ đang dập dềnh trên biển. Anh Đông may mắn vớ được một thanh gỗ trôi nổi và một vỏ bao tải gạo phủ lên đầu.

Được một lúc, anh Đông gặp một đồng đội cũng đang ôm một mảnh gỗ. Anh bị thương rất nặng đang hấp hối. Anh thều thào nhờ anh Đông nếu còn sống thì giúp chuyển lời về gia đình anh, nhưng chưa kịp hết câu thì tắt thở. Một tay bị thương tê liệt, một tay ôm mảnh gỗ, anh Đông trôi nổi trên biển nhiều giờ đồng hồ.

Cùng trong nhóm chiến sĩ đang bốc xếp hàng trên boong với anh Đông, nhưng anh Mai Văn Hải không biết bơi. Khi pháo bắn vào, anh Hải và nhiều chiến sĩ người chạy vào trong khoang tìm chỗ trú ẩn, người chạy vào kho vũ khí. Theo lời anh Hải, các anh được trang bị súng AK, nhưng lúc đó toàn bộ súng… đang ở trong kho. Thậm chí có nhiều khẩu được tháo ra lau chùi còn chưa lắp lại. “Vì chúng tôi có định đánh nhau đâu. Toàn lính công binh, chỉ nghĩ đi xây nhà“.

Anh Hải nói trên tàu có lực lượng chiến đấu hải quân, sau đó có bắn trả nhưng lực lượng quá mỏng nên bị áp đảo.

Tàu chìm nhanh, anh Hải cùng số chiến sĩ trong khoang nhanh chóng chìm cùng tàu. Nhưng khi nước dồn vào khoang, áp lực nước lại đẩy anh Hải qua cửa sổ trồi lên mặt biển cùng một số đồ đạc. Anh Hải túm được mảnh gỗ và – cũng như anh Đông – trôi nổi trên biển.

Gần giống tình huống của anh Hải, nhưng khốc liệt hơn, anh Nguyễn Văn Thống – khi đó là Tiểu đội trưởng. Anh Thống là một trong những chiến sĩ đầu tiên mang cờ vào đảo. Trước đó, theo lệnh của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ, những chiến sĩ biết bơi mang cờ vào trước cắm định vị trên đảo. Anh Thống cùng một số chiến sĩ bơi vào cắm được cờ  trên đảo, sau đó anh quay ra nối dây từ đảo ra tàu để kéo xuồng ra vào đảo chở vật liệu.

Khoảng 6h sáng, khi Trung Quốc tấn công, anh Thống lúc đó đang ở trong cabin nấu ăn cho anh em. Pháo bắn trúng tàu, anh Thống bị một mảnh thành tàu (hoặc pháo?) phạt ngang mặt, rồi liên tiếp toàn thân trúng đạn. Khi tàu chìm ngập xuống nước, lật nghiêng, anh Thống cũng bị áp lực nước đẩy bắn ra ngoài qua cửa sổ cabin.

Anh Thống nói, khi tàu chìm và trước đó có nhiều chiến sĩ rơi xuống mặt biển, nhưng họ lập tức bị lính Trung Quốc chạy xuồng xung quanh dùng AK bắn hạ. (Anh Đông phải lấy bao tải đội lên đầu ngụy trang).

Tôi may mắn (hoặc không may?) hơn anh em khác là lúc đó đang ở trong cabin tàu. Tàu chìm ngập xuống nước rồi tôi mới bị bật lên, nổi lên trên chậm hơn anh em nên lính Trung Quốc không để ý. Hơn nữa, toàn thân tôi bị  thương dập nát nên họ cũng tưởng tôi chết rồi nên không bắn nữa” Anh Thống kể lại.

Vừa may một mảnh gỗ to trôi gần, anh Thống gắng sức trèo lên đó trôi dập dềnh. Sau đó một chiếc xuồng cao su trôi dạt đến gần, anh với sang nằm ngã gọn trong xuồng, và chính chiếc xuồng đã cứu anh thêm từ một tai họa nữa.

 

Anh Nguyễn Văn Thống, Ảnh Hằng Nhom

Đạn pháo hay AK của Trung Quốc vẫn chưa phải đã hết. Các chiến sĩ còn phải đối diện với một điều khủng khiếp khác: cá mập. Vùng biển Trường Sa được xác định có khá nhiều cá mập. Anh em lính vẫn bảo nhau đi xuồng nhỏ phải cẩn thận. Những người bị thương tuyệt đối không xuống bơi, ngửi thấy mùi máu chúng tấn công ngay. (Ông Phan Xuân Dạch, thủ trưởng cũ của anh Thống xác nhận đúng vùng biển này nhiều cá mập. Cách đây vài năm một chiến sĩ Trường Sa từng bị cá mập cắn mất một bên chân).

Bản thân anh Thống trong lúc dập dềnh đó cũng suýt bị làm mồi cho một con cá. Nó cố gắng tấn công anh ba lần nhưng chiếc xuồng cao su đã làm vật che đỡ cho anh Thống. Con cá khi không thể cắn đứt chiếc xuồng cao su thì bỏ đi. Ngay sau đó khoảng vài chục phút, anh Thống gặp anh Đông, nhưng chính anh Đông không nhận ra người đồng đội/đồng hương của mình đã bầm dập tơi tả.

Khoảng 5h chiều, Trung Quốc cho tàu nhỏ rà soát vùng biển. Anh Đông, anh Thống và 7 người khác (trong đó có anh Hải) bị Trung Quốc bắt. Đến đêm tàu Việt Nam tiếp cận được khu vực và cứu vớt thêm được một số đồng chí.

Kết thúc biến cố ngày 14/3/1988, Trung Quốc tạm thời chiếm giữ Gạc Ma và Len Đao. Nhờ hành động dũng cảm của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và tập thể tàu HQ-505, tàu Việt Nam nằm án ngữ trên đảo Cô Lin và giữ được đảo này.

Phía Trung Quốc mất 8 binh sĩ. Việt Nam mất 3 tàu vận tải. Ngoài 9 người bị Trung Quốc bắt giữ, có 64 chiến sĩ hy sinh. Và đau lòng hơn cả, mãi sau này chỉ vài người được tìm thấy hài cốt. Những người còn lại – như anh Thống và anh Lê Văn Dũng nhận định – có thể đã làm mồi cho cá mập.

Vùng biển Gạc Ma một ngày đau đớn, ngập đỏ máu những người con trẻ trung của dân tộc. Đúng hôm nay (27/7/2011), chúng tôi ngồi viết lại những dòng chữ này ghi lại công ơn các anh. Nhân ngày Kỷ niệm Thương binh – liệt sĩ, xin thành kính gửi tới các anh lòng biết ơn và sự tiếc thương vô hạn. Tổ quốc và nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ quên các anh và nguyện sẽ tiếp bước các anh, quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

 

Danh sách 64 chiến sĩ đã hy sinh ngày 14-3-1988

1- Vũ Phi Trừ, quê Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hóa.
2- Nguyễn Văn Thắng, quê Thái Hưng, Thái Thụy, Thái Bình.
3- Phạm Gia Thiều, quê Hưng Đạo, Trung Đồng, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam)
4- Lê Đức Hoàng, quê Nam Yên, Hải Yên, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
5- Trần Văn Minh, quê Đại Tân, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh (nay là tỉnh Nghệ An).
6- Đoàn Đắc Hoạch, quê 163 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng.
 7- Tạ Trần Văn Chức, quê Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình.8- Hán Văn Khoa, quê Văn Lương, Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ).9 – Trần Văn Phong, quê Hải Tây, Hải Hậu, Hà Nam Ninh (Nam Định).
10-   Nguyễn Văn Hải, quê Chính Mỹ, Thủy Nguyên, Hải Phòng.
11-  Nguyễn Tất Nam, quê Thường Sơn, Đô Lương, Nghệ Tĩnh.
12-  Trần Đức Bảy, quê Phương Phượng, Lê Hòa, Kim Bảng, Hà Nam Ninh (nay là tỉnh Hà Nam).
13- Đỗ Việt Thắng, quê Thiệu Tân, Đông Sơn, Thanh Hóa.
14-  Nguyễn Văn Thủy, quê Phú Linh, Phương Đình, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (nay là Hà Nam).
15-  Phạm Hữu Đoan, quê Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình.
16- Bùi Duy Hiền, quê Diêm Điền, Thái Thụy, Thái Bình.
17- Nguyễn Bá Cường, quê Thanh Quýt, Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam – Đà Nẵng (nay là tỉnh Quảng Nam).
18- Kiều Văn Lập, quê Phú Long, Long Xuyên, Phúc Thọ, Hà Nội.
19- Lê Đình Thơ, quê Hoằng Minh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
20- Cao Xuân Minh, quê Hoằng Quang, Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
21- Nguyễn Mậu Phong, quê Duy Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (nay là Quảng Bình).
22- Trần Văn Phương, quê Quảng Phúc, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
23- Đinh Ngọc Doanh, quê Ninh Khang, Hoa Lư, Hà Nam Ninh (Ninh BÌnh).
24- Hồ Công Đệ, quê Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
25- Đậu Xuân Tư, quê Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
26- Bùi Bá Kiên, quê Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng.
27- Đào Kim Cương, quê Vương Lộc, Can Lộc, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
28- Phan Tấn Dư, quê Hòa Phong, Tuy hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
29- Nguyễn Văn Phương, quê Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình.
30- Võ Đình Tuấn, quê Ninh Ích, Ninh Hòa, Phú Khánh (Khánh Hòa).
31- Nguyễn Văn Thành, quê Hương Điền, Hương Khê, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
32- Phan Huy Sơn, quê Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
33- Lê Bá Giang, quê Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
34- Nguyễn Thắng Hải, quê Sơn Kim, Hương Sơn, Nghệ Tĩnh (Hà Tĩnh).
35- Phan Văn Dương, quê Nam Kim, Nam Đàn, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
36- Hồ Văn Nuôi, quê Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ Tĩnh (Nghệ An).
37- Vũ Đình Lương, quê Trung Thành, Yên Thành, Nghệ Tĩnh.
38- Trương Văn Thinh, quê Bình Kiên, Tuy Hòa, Phú Khánh (Phú Yên).
39- Trần Đức Thông, quê Minh Hòa, Hưng Hà, Thái Bình.
40- Trần Văn Phong, quê Minh Tâm, Kiến Xương, Thái Bình.
41- Trần Quốc Trị, quê Đông Thạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).

42- Mai Văn Tuyến, quê Tây An, Tiền Hải, Thái Bình.

43 – Lê Thế, quê tổ 29, An Trung Tây, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
44- Trần Đức Hóa, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
45- Phan Văn Thiềng, quê Đông Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
46- Tống Sĩ Bái, quê phường 1, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
47- Hoàng Ánh Đông, quê phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên (Quảng Trị).
48- Trương Minh Phương, quê Quảng Sơn, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
49- Nguyễn Minh Tâm, quê Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình.
50- Trần Mạnh Viết, quê tổ 36, Bình Hiên, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng)
51- Hoàng Văn Túy, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
52- Võ Minh Đức, quê Liên Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
53- Võ Văn Tứ, quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
54- Trương Văn Hướng, quê Hải Ninh, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
55- Nguyễn Tiến Doãn, quê Ngư Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
56- Phạm Hữu Tý, quê Phong Thủy, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
57- Nguyễn Hữu Lộc, quê tổ 22, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
58- Trương Quốc Hùng, quê tổ 5, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
59- Nguyễn Phú Đoàn, quê tổ 47, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP. Đà Nẵng).
60- Nguyễn Trung Kiên, quê Nam Tiến, Nam Ninh, Hà Nam Ninh (Nam Định).
61- Phạm Văn Lợi, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Quảng Bình).
62- Trần Văn Quyết, quê Quảng Thủy, Quảng Trạch, Bình Trị Thiên (Q. BÌnh).
63- Phạm Văn Sửu, quê tổ 7, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng).
64- Trần Tài, quê tổ 12, Hòa Cường, Đà Nẵng, Quảng Nam-Đà Nẵng (TP Đà Nẵng)

Categories

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.